Kiến thức  >  Kiến thức về chè

Những ai không nên uống chè đắng?

Đông y: Trà đắng có vị khổ cam (đắng ngọt), tính đại hàn (rất lạnh); vào 3 kinh  Can, Phế và Vị. Có tác dụng tán phong nhiệt (giải nhiệt), thanh đầu mục  (tỉnh táo đầu óc), trừ phiền khát. Dùng chữa đau đầu, đau răng, đau mắt  đỏ, ù tai, nặng tai, kiết lỵ, ...



Kết quả nghiên cứu tại một số cơ quan ở nước ta như Viện dược liệu, Đại học Dược Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Y Thái Nguyên, ... cho thấy:
Trà đắng Cao Bằng có tác dụng phòng ngừa cao huyết áp, hạ mỡ máu, trợ  tim, an thần, sát khuẩn, chống viêm, bảo vệ gan, giải độc, lợi mật, lợi  tiểu, kích thích tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng, ...

Như trên đã nói, theo quan điểm về dược lý của  Đông y, trà đắng là loại thuốc có vị đắng và rất lạnh (đại hàn); thuộc  nhóm thuốc "thanh nhiệt tả hỏa", nên dễ gây tổn thương dương khí và ảnh  hưởng xấu đến chức năng tiêu hóa của tỳ vị. Do đó, một số trường hợp và  đối tượng sau đây, nói chung không nên dùng chè đắng:

1. Bị cảm lạnh: Mùa Đông là giai đoạn dễ bị cảm lạnh. Người bị cảm lạnh nên sử dụng  những loại thức ăn và đồ uống có tính ôn nhiệt (ấm nóng) như gừng, quế,  tía tô, kinh giới, ... để có thể trừ khử khí lạnh trong cơ thể. Nếu bị  cảm lạnh, mà lại uống trà đắng, ắt sẽ cản trở quá trình phát tán phong  hàn; sẽ khiến bệnh kéo dài, hoặc có thể dẫn đến những biến chứng ngoài  sự mong muốn.

2. Người tạng hàn (thể chất hư hàn): "Hư  hàn" còn gọi là "dương hư". Đó là tình trạng dương khí của cơ thể bị  thiếu hụt, quá trình chuyển hóa, sưởi ấm, hóa sinh, phòng vệ, ... đều bị  giảm sút ở mức độ nhất định. Đặc điểm nổi bật nhất của người tạng hàn  (thể chất hư hàn) là rất sợ lạnh; mùa đông là chân tay lạnh ngắt. Ngoài  ra còn thường có những biểu hiện như tinh thần uể oải, người mệt mỏi,  sắc diện nhợt nhạt, vã mồ hôi (tự hãn), tiểu tiện trong dài, đại tiện  lỏng nhão, đau bụng ỉa chảy; chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng nhớt, ...  Người tạng hàn nên sử dụng nhiều những loại thứ ăn ấm nóng, như thịt dê,  thịt chó, ... cũng vẫn không sợ bị "bốc hỏa". Thế nhưng, sau khi uống  trà đắng vào, thì cảm giác sợ lạnh sẽ tăng lên nhiều; nói chung không có  lợi đối với việc cải thiện thể chất. Thậm chí, mỗi khi uống vào, là sẽ  bị đau bụng ỉa chảy.

3. Viêm dạ dày, người già và trẻ nhỏ: Nói  chung, ở những người bị viêm dạ dày - ruột mạn tính, thường có những  biểu hiện mà Đông y gọi là "tỳ vị hư hàn", khi  bụng bị nhiễn lạnh hoặc  ăn loại thức có tính hàn lương, rất dễ bị đau bụng ỉa chảy. Uống trà  đắng, sẽ khiến các chứng trạng hư hàn càng thêm trầm trọng. Người cao  tuổi dương khí đã suy, hoặc trẻ nhỏ dương khí vẫn còn non nớt, nói chung  không nên uống trà đắng; vì uống trà đắng vào, dễ dẫn đến những tác  dụng phụ bất lợi, như rối loạn tiêu hóa hoặc đau bụng ỉa chảy.

4. Phụ nữ đang hành kinh:  Cơ thể phụ nữ trong thời gian hành kinh, đang ở trong trạng thái mất  máu, sức đề kháng của cơ thể những ngày này nói chung giảm xuống. Nếu  uống trà đắng, một loại nước uống có tính đại hàn, dễ dấn tới tình trạng  khí huyết ngưng kết, kinh huyết khó bài xuất ra ngoài, gây nên thống  kinh (đau bụng khi hành kinh), thậm chí có thể gây rối loạn kinh nguyệt.  Còn những phụ nữ bị mắc bệnh thống kinh, ngay cả trong những ngày bình  thường, khi không có kinh, nói chung cũng không nên sử dụng trà đắng.

5. Sản phụ mới sinh đẻ:  Phụ nữ vừa mới sinh con, cơ thể còn đang suy nhược, nói chung nên dùng  nhiều thức ăn hoặc vị thuốc có tính ôn bổ. Trà đắng có tính đại hàn,  không những không có lợi đối với sự phục hồi của tử cung, mà còn có thể  gây tổn thương tỳ vị (chức năng tiêu hóa). Rất dễ dẫn đến tình trạng  bụng lạnh đau triền miên, rất khó chữa khỏi.
Cuối cùng, cũng nên lưu ý thêm một điều, theo "Trung Dược đại từ điển", thực nghiệm trên động vật cho thấy, khổ đinh trà (trà đắng) có tác dụng chống thụ thai ở chuột, với hiệu suất lên tới 80-90%. Do đó chị em phụ nữ đang có thai hoặc chuẩn bị có con, tốt nhất là không nên sử dụng.


Ngày đăng: 18-06-2014 - Tác giả: Lương y Huyền Thảo

Nếu bài viết này hay và có ích vui lòng ấn Like và Share để cho mọi người cùng biêt.

Comments